Bệnh viêm khớp xương mãn tính.

Viêm xương khớp là hình thức viêm khớp thông thường nhất, đặc biệt là ở người lớn tuổi. Viêm xương khớp là bệnh khớp xương gây ra do sự hư hỏng sụn – sụn là tế bào đàn hồi đệm cho xương ở khớp xương. Sụn khỏe mạnh làm cho xương có thể lướt lên nhau và sụn hấp thu năng lượng do chuyển động va chạm. Ở người bị viêm xương khớp, sụn bị hỏng và mòn đi. Kết quả là xương cọ vào nhau, gây ra đau, sưng và cứng khớp. Viêm xương khớp có thể làm giới hạn cử động ở phần khớp bị đau. Thường viêm xương khớp phát triển ở tay, đầu gối, hông và xương sống. Bệnh ảnh hưởng tới phụ nữ và đàn ông như nhau. Hơn 20 triệu người ở Mỹ mắc chứng viêm xương khớp. Triệu chứng thường xuất hiện khi ở tuổi 50 và 60.


Bệnh viêm khớp mãn tính là chứng bệnh hết sức phổ thông. Đối với người từ 50 tuổi trở lên, bệnh viêm khớp mãn là bệnh hàng thứ nhì khiến người có tuổi bị khó khăn trong cuộc sống và làm việc hàng ngày.
 
Một trong các khó chịu nhất của bệnh viêm khớp mãn là đau. Đau đớn và bị stress là hai hình thức dễ thấy nhất ở bệnh nhân bệnh này ở người cao tuổi. Một trong các cách hữu hiệu chống bệnh viêm khớp mãn chính là thư giãn, vì khi có được trạng thái thư giãn thì stress và đau đớn cũng giảm. Nhiều lý do đưa tới đau đớn là tình trạng viêm sưng, mệt mỏi, bắp thịt bị căng cứng và ngủ không đủ giấc.
 
Stress làm cortisol và adrenaline tiết ra nhiều, làm bắp thịt căng lên, nhịp tim cũng tăng và huyết áp tăng. Và cái vòng lẩn quẩn đau khổ là đau đớn khớp xương lại làm stress gia tăng.

Các dấu hiệu và triệu chứng viêm xương khớp bao gồm:
• Đau khớp (thường là đau nhiều) khi cử động đau nhiều hơn và nghỉ ngơi thì bớt (trong trường hợp nặng có thể đau liên tục)
• Cảm thấy cứng khớp vào buổi sáng hoặc sau khi bất động hơn 15 phút
• Sưng khớp
• Sờ chỗ khớp thấy ấm
• Nghe rào rào hay lục cục khi khớp chuyển động
• Tầm cử động bị hạn chế
• Bắp thịt yếu
• Những nốt xương bất bình thường mọc lên gần khớp làm cho khớp biến dạng (chẳng hạn nốt Heberden, bứu xuất hiện ở khớp ngón tay ngoài cùng).

Nguồn gốc bệnh viêm xương khớp
 
Viêm xương khớp cũng được gọi là bệnh thoái hóa khớp vì tình trạng này bao gồm sự phá hủy sụn bảo vệ khớp. mặc dù có những yếu tố tiên báo một người mắc bệnh viêm xương khớp, nhưng người ta chưa biết rõ điều gì gây ra sự hủy hoại và mất sụn. Trong một ít trường hợp, viêm khớp xảy ra do sự nứt, hoặc do sự bất bình thường cơ học như chi dưới dài không đều, những bệnh xương khớp khác như bệnh gút hoặc sự rối loạn nội tiết hoặc chuyển hóa có thể gây viêm xương khớp.

Những yếu tố nguy cơ viêm xương khớp gồm có:
• Lớn tuổi
• Yếu tố di truyền
• Béo phì
• Vết thương ở khớp
• Có tiền sử viêm khớp
• Rối loạn chuyển hóa hay rối loạn hormon (hemochromatosis và acromegaly)
• Rối loạn xương và khớp khi sinh
• Khớp làm việc căng thẳng ở một số hoạt động như chơi bóng chày, khiêu vũ, và công việc xây dựng
• Lắng đọng tinh thể ở khớp như xảy ra ở bệnh gút

Chẩn đoán viêm xương khớp
 
Không thể chẩn đoán viêm xương khớp chỉ bằng một xét nghiệm duy nhất mà phải bằng nhiều phương pháp để loại trừ khả năng gây ra của một số nguyên do khác.
• Tiền sử bệnh án – bác sĩ đánh giá triệu chứng bằng cách hỏi khi nào triệu chứng bắt đầu, biến chuyển ra sao, khớp nào bị và trước đây ảnh hưởng ra sao. Bác sĩ sẽ hỏi về tình trạng thể trạng khác có thể góp phần tạo ra triệu chứng viêm khớp, những thuốc đang uống cũng có thể tương tác với các loại thuốc bác sĩ có ý định kê đơn, do đó cũng phải được xem xét.
• Khám nghiệm vật lý – các khớp bị viêm sẽ được xem xét tình trạng sưng đỏ, tiếng kêu lụp cụp khi xương cọ vào nhau do thiếu sụn, sự hiện diện của chất lỏng trong khớp, sức mạnh và tầm vực chuyển động của khớp.
• X-quang để chẩn đoán sự mất sụn (được thấy khi khoảng cách khớp nhỏ lại), tình trạng xương bị gai hay mòn.
• Thử máu được tiến hành để tìm những dấu hiệu viêm tổng quát để loại trừ khả năng gây ra do những bệnh khác như thấp khớp hay Lyme’s disease, và để kiểm tra sự có mặt của các chất đánh dấu bệnh việm khớp như axít hyaluronic, một chất tạo ra sự bôi trơn cho khớp nhưng bị hư hỏng do bệnh viêm khớp.
• Hút dịch ở khớp – Chất dịch nếu có sẽ được hút để đánh giá bằng cách dùng kim và syringe; thông thường đối với bệnh viêm khớp sẽ không có đủ lượng chất lỏng trong khớp để hút; vì thế đánh giá chất lỏng có thể tiết lộ nguyên nhân khác của bệnh viêm khớp như bệnh gút hay tình trạng nhiễm trùng.

Những biện pháp sau có thể làm giảm thiểu nguy cơ phát triển viêm khớp xương:
• Không để cho khớp đang bị thương thiệt hại thêm
• Tập thể dục
• Giảm cân
• Tránh vận động lặp đi lặp lại quá mức

Kỹ thuật thư giãn sẽ nhằm làm giảm stress trước hết, sau đó nhịp tim sẽ giảm, huyết áp giảm, bắp thịt mềm ra và hơi thở nhẹ nhàng, điều hòa… Có nhiều cách như yoga, thiền định, tập thở sâu, thái cực quyền… Cách nào cũng tốt, nếu ta đã chọn được một kỹ thuật thích hợp cho bản thân.
 
Có lẽ thở sâu là dễ nhất và có hiệu quả thấy liền. Thở sâu không khó lắm, trước hết bạn hít thật sâu vào bằng mũi, giữ lại vài giây và bắt đầu thở ra từ từ. Tư thế ngồi thở thẳng lưng là tốt nhất, nhưng nếu bạn thấy đứng hay nằm dài mà thấy thoải mái thì cứ làm, điều quan trọng là bạn tập trung tư tưởng vào hơi thở.
 
Yếu tố kế tiếp là kiểm soát trọng lượng cơ thể. Nếu bạn tăng cân thì thế nào đầu gối và xương hông sẽ bị ảnh hưởng ngay. Phụ nữ nặng cân sẽ có khả năng bị viêm khớp mãn gấp 4 lần phụ nữ có trọng lượng vừa phải. Kết quả một cuộc khảo sát khoa học mới đây cho biết là nếu cơ thể phụ nữ trên 40 tuổi mà giảm 4 - 5kg thì nguy cơ bị viêm khớp mãn ở đầu gối giảm tới 50%.
 
Khi có tuổi bạn cần tỏ ra… độ lượng với các khớp xương và đầu gối của mình. Các bác sĩ nhận thấy các cử động mạnh, bất ngờ như chơi quần vợt chẳng hạn, sẽ làm các khớp xương dễ bị chấn thương và sau đó sẽ dễ phát triển bệnh viêm khớp mãn.
 
Tập thể dục như co duỗi và tăng cường sức sẽ làm các khớp xương cứng cáp, khỏe mạnh. Các dây gân và bắp thịt cũng được tăng cường. Bơi lội và các hình thức tập thể dục ở dưới nước cũng hết sức tốt đối với các khớp xương.

 Kết quả của các cuộc nghiên cứu cho thấy những người bị đau đầu gối, chân và cổ chân thường cân nặng hơn những người không bị. Những người mập, nhất là do có dư mỡ đè trên đầu gối, thường gây ra bệnh viêm khớp khi còn trẻ và khi lớn tuổi. Nếu bạn lên cân, thì hậu quả là đầu gối, chân, và cổ chân bạn sẽ bị đau.
 
Tuy nhiên, nếu chỉ xuống 1kg thì sẽ giảm đi 2kg sức nặng đè trên khớp xương đầu gối. Nếu bạn đi bộ 10.000 bước mỗi ngày (đây cũng là đề nghị cho những người muốn xuống cân), có nghĩa là bạn giảm đi 44kg sức ép trên đầu gối mỗi ngày!

Xuống cân sẽ làm giảm đau đầu gối. Một cuộc nghiên cứu khác cho thấy xuống cân thì hiệu nghiệm hơn là chữa trị bằng dược phẩm, (thí dụ thuốc paracetamol), và nhất là không có phản ứng phụ của chất chống viêm. Bạn cần biết là các chất như glucosamine và chondroitin sulfate có khả năng làm giảm bớt tốc độ suy thoái các khớp xương của người có tuổi.
 
Những người bị viêm khớp còn gặp một sự khó khăn khác, đó là tập thể dục có thể làm cho đau hơn, trong khi ít hoạt động lại đưa đến việc lên cân và đau nhiều hơn. Sự đau đớn này có thể làm trở ngại cho các cử động hàng ngày. Nhưng may mắn thay, vài cuộc nghiên cứu cho thấy những người bị viêm đầu gối mà nếu xuống cân qua sự thay đổi cách ăn uống thì cũng có kết quả tương tự như những người xuống cân do tập thể dục. Hơn nữa, xuống cân cũng có những ích lợi khác, như là giảm bị bệnh tim và một vài loại ung thư.
 
Sau cùng, cách chữa trị là thay thế các tế bào xương bị hư hoại bằng các chất như kim loại hay plastic. Người ta chỉ dùng phương pháp này khi uống thuốc mãi mà đau khớp vẫn không bớt. Tuy nhiên, mọi liệu pháp điều trị cần được bác sĩ khám và hướng dẫn đúng mức.
 
Như nếp nhăn và tóc bạc, tiếng kêu lạo xạo hay khục khục của khớp là dấu hiệu đầu tiên báo trước tình trạng đau khớp mãn của nhiều năm sau này.
 
Dáng đi đúng giúp giảm các nguy cơ tổn thương sụn khớp
 
Nguyên nhân thường là do bệnh viêm khớp xương mãn tính. Căn bệnh này tiêu tốn hàng triệu viên thuốc chống viêm, giảm đau và hàng ngàn người khác phải thực hiện phẫu thuật thay khớp mỗi năm. Nhưng bạn có thể hạn chế thậm chí ngăn ngừa được tình trạng này.
 
Ở khớp khỏe mạnh, sụn hoạt động như một tấm đệm giảm xóc, cung cấp chất nhầy có độ trơn hơn 20 lần so với mặt băng trượt để các đầu xương không ma sát vào nhau. Tuy nhiên, khi bị viêm, sụn bắt đầu “xuống cấp” và “tiêu” dần, khiến cho 2 đầu xương dần tiếp xúc với nhau. Và rồi xuất hiện tiếng lạo xạo, lục cục do chúng va vào nhau và gây đau đớn.

Gene, dinh dưỡng và bệnh tật đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì lớp sụn giữa các đầu xương. Nhưng bạn sử dụng các khớp như thế nào để nó bền vững? Với sự giúp đỡ của các chuyên gia về dinh dưỡng và luyện tập, chúng ta sẽ phòng và hạn chế được những tổn thương khớp mà có thể sẽ gây đau đớn kéo dài sau này:

Hông

Khớp hông là khớp nơi xương đùi nối với xương chậu. Khớp này có góc di chuyển rộng nhất trong các khớp chính gánh sức nặng và nó cũng dễ bị “xuống cấp” nhất. Đó là bởi vì khi chúng ta đi và đứng, trọng lượng của phần trên cơ thể sẽ dồn xuống hông, trong khi chân lại tạo áp lực từ dưới lên.

Cả 2 giới đều có xu hướng bị các vấn đề ở hông như nhau và hầu hết đều được chẩn đoán bệnh khi ở độ tuổi ngoài 40.

Phòng ngừa: Sức mạnh của cơ bắp, dây chằng và gân ở xung quanh hông rất quan trọng vì nó chính là hệ thống giàn giáo “đỡ đần” cho khớp, giúp giảm áp lực khi đi, đứng và hỗ trợ lớp sụn.

Cách tốt nhất để tăng cường sức khỏe của hệ thống này là các bài tập ít gây chấn thương như yoga, Pilate, bơi và đạp xe.

Một trong những cách hủy hoại khớp hông nhanh nhất là hãy bắt đầu các bài tập có cường độ luyện tập cao.

“Nếu nhất định muốn chạy, cần phải khởi động kỹ. Các cơ bắp cần được chuẩn bị sẵn sàng và các khớp cần được thư giãn trước khi bắt đầu nện chân không ngừng xuống mặt đường”, chuyên gia phẫu thuật chỉnh hình Tony Clayson, Hiệp hội khớp hông Anh khuyên.

Một yếu tố khác không kém phần quan trọng là phải chọn những đôi giày thật phù hợp. Nhìn chung, giày đế cao su là phù hợp hơn cả vì chúng giảm xóc tốt nhất.

 Nếu cấu tạo lòng bàn chân phẳng thì nên đi những đôi có đế giày được thiết kế đặc biệt để giúp bảo vệ xương.

Những động tác hỗ trợ: Luyện tập được ví như chiếc máy bơm giúp đẩy dinh dưỡng vào khớp, “vỗ béo” sụn bởi nếu khớp không được hoạt động, nó sẽ tự “tiêu”.

Các động tác nguy cơ: mang giày không đúng cỡ, tăng cân quá mức.

Đầu gối

Khớp đầu gối bị “đứng” ở vị trí thứ hai về mức độ dễ “xuống cấp” nhất. Nguyên nhân của tình trạng này là do nó thường chịu nhiều tác động quá mức, các gân, dây chằng và cơ dễ bị tổn thương (bong gân…), theo đó cũng nhanh “xuống cấp” hơn.

 Nam giới có xu hướng bị viêm khớp gối nhiều hơn do chấn thương khi chơi thể thao.

 Tuy nhiên, phụ nữ thừa cân cũng có nguy cơ bị viêm khớp gối dù nguyên nhân chưa rõ là do đâu.

Ngăn ngừa: Khớp gối không có nhiều sự bảo vệ như khớp hông vì thế nó phụ thuộc vào cơ bắp chân, bộ phận giúp giảm xóc cho đầu gối khi đi, đứng, chạy và giữ cho nó được ổn định.

 Vì thế những những cơ bắp này không được rèn luyện, khớp sẽ tạo ra tiếng lạo xạo, dẫn đến hủy hoại lớp sụn.

 Như khớp hông, nhiều người bị tổn thương khớp gối do không chịu khởi động kỹ trước khi chơi thể thao, làm việc nặng.

 Không chỉ các hoạt động nặng nhọc, đòi hỏi nhiều sức lực gây ra tình trạng này mà cả những người chơi game cũng có thể bị bệnh. Các bác sĩ đã từ điều trị cho những bệnh nhân này và họ cho biết, nguyên nhân chính là do họ không tập luyện gì nhưng bất ngờ nhảy nhót trong phòng khách do sung sướng vì vừa hoàn thành 1 trò chơi và rồi nhận ra đầu gối mình đau nhói.

 Đối với những người thừa cân, cứ mỗi 0,45kg, xung lượng của chạy hay nhảy sẽ gây tăng áp lực lên khớp gấp 10 lần so với bình thường.

Những hoạt động hỗ trợ khớp vai: Nâng chân sẽ giúp tăng cường sức khỏe của bắp đùi. Mỗi lần nâng chân nên giữ 10 giây và thực hiện động tác này 5 lần mỗi ngày.

 Các nghiên cứu cũng cho thấy các bài tập thái cực quyền cũng giúp giảm đau hiệu quả nếu khớp gối đang bị suy yếu.

Các hoạt động làm tăng nguy cơ: dùng đồi gối làm lực chính để nâng đồ vật nặng.

Các môn thể thao nguy cơ là trượt tuyết và lướt sóng.

 Biểu hiện đầu tiên của viêm khớp cổ là cổ đau cứng và chứng dính cứng khớp cổ có thể tăng nặng do tư thế ngồi trước máy tính hay các hoạt động khác (là ủi quần áo) không đúng, khiến các đĩa đệm bị ép về phía trước...

Vai

 Vai không phải gánh trọng lượng vì thế nó ít bị viêm hơn cả. Tuy nhiên, ở nam giới trung niên, những người thường xuyên phải làm các công việc nâng vác, chứng bệnh hay gặp là trật khớp. Đó là vì khớp vai có mức độ dịch chuyển không lớn như hông nên các hốc cũng rất hẹp, vì thế các đầu xương có xu hướng bị trượt ra ngoài hay không còn ở đúng vị trí khi bị quá sức.

 Vai cũng có nguy cơ bị căng cơ hay giãn dây chằng do bất ngờ nâng một vật nặng qua đầu hoặc ném cái gì đó.

Phòng ngừa: Sự thoái hóa của khớp vai thực tế là không chỉ ảnh hưởng riêng tới khớp. Nhiều người bị đau vai nhưng là ở các mô mềm xung quanh khớp, đó là vì chúng không được kéo căng vừa đủ. Kết quả là mỏm xương và hốc xương gần nhau quá và các xương bắt đầu chà xát vào nhau.

 Dấu hiệu đầu tiên thường là rất khó tự gội đầu. Một biểu hiện thường gặp khác là cứng vai. Điều này diễn ra khi không sử dụng khớp vai thường xuyên và khiến nó bị “tê liệt”.

“Tại sao điều này lại xảy ra thì đến nay chưa rõ nhưng có thể là các mô và bao quanh khớp bị viêm và làm cho khớp vai bị “kẹt cứng”, một chuyên gia về khớp vai cho biết.

 Những động tác hỗ trợ khớp vai: vươn tay qua đầu để vai được vận động. Đánh tay trong khi đi bộ cũng rất tốt.

Các nguy cơ: Chúng ta cũng nên bảo vệ vai bằng cách tránh uốn cong vai hay gập vai quá mức.

Nếu vai bị uốn cong, khớp sẽ không còn ở đúng vị trí, sẽ nhanh “xuống cấp”.

Cổ
 
 Cổ là bộ phận có nhiều cử động và vì thế mà các khớp cổ cũng dễ bị suy yếu. Điều này có thể dẫn tới dính cứng khớp cổ, nơi các đĩa đệm giữa các các đốt sống mất đi chức năng “giảm xóc”.

Phòng ngừa: Chứng dính cứng khớp cổ có thể tăng nặng do tư thế ngồi trước máy tính hay các hoạt động khác (là ủi quần áo) không đúng, khiến các đĩa đệm bị ép về phía trước.

 Theo chuyên gia phẫu thuật Steve Krikler, để phòng tránh bệnh này, đặc biệt là ở nhóm dân văn phòng, dân công nghệ, “Khi ngồi vào bàn, cần phải chú ý chiều cao giữa ghế và bàn làm việc sao cho đầu không phải cúi hay ngầng khi nhìn vào màn hình máy tính”.

 Những động tác hỗ trợ khớp cổ: cúi đầu sao cho cằm hướng về phía ngực và rồi ngước mắt lên trần nhà. Làm động tác này 5 lần. Sau đó từ từ quay đầu sang 2 bên hết mức có thể trong 10 lần.

 Các nguy cơ: Không cúi đầu khi làm việc với máy tính, làm vườn, là quần áo… trong 1 thời gian dài.

Mắt cá chân

 Khớp mắt cá chân là chịu áp lực đầu tiên khi đi hay chạy. Mắt cá nhân cho phép bàn chân di chuyển lên xuống, trong khi khớp sên gót sau khớp dưới sên lại có nhiệm vụ giúp bàn chân di chuyển theo hướng vào trong hay ra ngoài.

Viêm mắt cá chân thường gặp ở phụ nữ bởi vì họ thường mang giày cao gót. Vấn đề này thường gặp ở 2 giới khi trong độ tuổi 35-45. Một nguyên nhân khác gây ra viêm khớp mắt cá là do những chấn thương trước đó.

Phòng ngừa: mặc dù đi bộ là một cách luyện tập tốt nhưng những người có bàn chân khum hay phẳng thì khả năng hấp thụ áp lực khi đi bộ thường kém hơn, vì thế dây chằng dễ bị ảnh hưởng. Khi dây chằng bị yếu sẽ gây áp lực cho khớp mắt cá trong mỗi bước đi, thậm chí là ảnh hưởng tới cả hệ thống xương chân.

 Khoảng 40% chúng ta bị bàn chân bẹt và cứ 10 người sẽ có 1 người mắc chứng viêm khớp do cấu tạo chân đặc biệt này.

 Để giảm thiểu tất cả các vấn đề, cần mua giày có gót phù hợp để giảm áp lực lên chân. Tránh đi các loại giày dép phẳng hoặc có gót quá cao vì sẽ gây hại cho gót chân.

Các động tác hỗ trợ: Cử động chân và mắt cá khi ngồi và vận động các ngón chân lên xuống 10 lần trước khi xoay chúng theo chiều kim đồng hồ và ngược lại.

Thực hiện điều này mỗi sáng và tối.

Các nguy cơ: mang giày không phù hợp với bàn chân hoặc đi giày quá cao.

Khuỷu tay

 Mặc dù khớp khuỷu tay ít bị suy yếu hơn các khớp khác nhưng nguy cơ có thể xảy ra khi nâng các vật nặng. Những vấn đề khác thường gặp là khi tay bị bẻ quặt, gây giãn dây chằng. Vấn đề này cũng thường gặp ở những người chơi tennis hay chơi golf do họ thường xuyên phải ngửa cổ tay hoặc xoay tròn cẳng tay.

Phòng ngừa: Không để tay thực hiện đi thực hiện lại một động tác trong một thời gian dài. Có thể đeo nẹp tay để chấm dứt tình trạng căng dây chằng.

Các động tác hỗ trợ: Gập rồi duỗi thẳng tay 10 lần mỗi ngày để rèn luyện dây chằng và gân tay. Nếu dùng máy tính, nên để chuột ở gần người để tránh bị căng cơ, dây chằng do với tay.

Các nguy cơ: làm vườn hay bất kỳ công việc nào mà động tác chỉ lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.

Cổ tay và bàn tay

 Tình trạng suy yếu thường gặp ở các khớp gốc ngón tay. Phụ nữ lớn tuổi dễ gặp hiện tượng này, có lẽ là do họ làm các công việc chân tay lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.

Các động tác hỗ trợ: ngón cái dễ bị viêm nhất, đặc biệt nếu phải lặp đi lặp lại các hoạt động như đan lát, thêu thùa vì thế cần thường xuyên nắm mở tay, xoay cổ tay và gập lên gập xuống cổ tay 10 lần mỗi ngày.

Các nguy cơ: dùng ngón cái để cầm các đồ vật.

Phương pháp điều trị viêm khớp
 
Mục đích điều trị viêm khớp là giảm triệu chứng, duy trì tình trạng vận động và loại trừ tối đa tình trạng thương tật. Thường sử dụng tổng hợp thủ thuật thần kinh cột sống, trị liệu và bổ sung sản phẩm thiên nhiên. Nếu có thể và nếu muốn sẽ điều trị viêm khớp không dùng thuốc. Thuốc giảm đau và kháng viêm không nên sử dụng như cách điều trị chủ yếu – chỉ dùng khi hoàn toàn cần thiết, kết hợp với những hình thức trị liệu khác. Lối sống, sự tập thể dục, và những hình thức trị liệu khác trở nên ngày càng phổ biến và được coi là an toàn và hiệu quả để điều trị viêm khớp. Một số cách chữa trị tự nhiên cũng hiệu quả như y khoa đương thời để làm giảm triệu chứng và có thể dần dần làm giảm thiểu sự tiến triển của bệnh. Nhiều cuộc khảo cứu tiến hành năm 1997 thấy rằng có từ 26% tới 100% bệnh nhân rối loạn thấp khớp (đau bắp thịt, đau gân, đau khớp và xương) đã sử dụng một hình thức trị liệu bổ sung và dùng thuốc đông y.

Một số phương pháp bổ sung hứa hẹn nhất để chữa trị viêm khớp là:
• Thủ thuật thần kinh cột sống chỗ viêm khớp.
• Làm giảm sự đè nén lên chỗ viêm khớp bằng cách như giảm cân hay sửa đổi lại tư thế
• Cải thiện lối sống (cụ thể là thể dục)
• Sử dụng thuốc bổ sung như S-adenosylmethionine (SAMe), glucosamine và chondroitin, và chất chống oxyhóa.
• Dùng thảo dược có tính kháng viêm như cây móng quỉ, vỏ cây liễu, và kem capsaicin.
• Châm cứu
• Vật lý trị liệu và chữa trị bằng nam châm (magnet therapy)
• Thực hành Yoga
• Thực hành khí công (Tai chi)

Tập thể dục để làm tăng cường sức mạnh, kéo dài và thư giãn bắp thịt quanh chỗ viêm khớp luôn được đưa vào trong chương trình trị liệu. Nhiều cuộc nghiên cứu đã củng cố giá trị của việc tập thể dục đối với người bị viêm khớp. Như cuộc nghiên cứu mới đây thấy rằng người tham gia chương trình tập thể dục ở nhà giảm đau được 23% so với những người không tập chỉ giảm đau được 6 %. Những cuộc nghiên cứu khác cũng nói rằng ngoài làm giảm đau và giảm nguy cơ tật nguyền thể dục còn tăng cường sức mạnh, tầm vực cử động, sự cân bằng, tính phối hợp, sức chịu đựng và cải thiện tư thế.

Thức ăn bổ sung và cách chữa trị thiên nhiên

Glucosamine và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn. Để bổ sung, những chất này được lấy từ sụn bò và bê. Những chất này đã được dùng ở Âu Châu hơn một thập niên và mới đây cũng phổ biến ở Mỹ. Hai chất này cho thấy có thể ức chế viêm trong phòng thí nghiệm. Để đánh giá tác dụng lâu dài và tính chất bổ dưỡng của những chất này Trung Tâm Quốc Gia Thuốc Bổ Sung và Dược Liệu Thay Thế (NIH) đã tài trợ một chương trình so sánh lâm sàng hai hợp chất glucosamine, chondroitin và tổng hợp hai chất với giả dược. Cuộc nghiên cứu hoàn tất vào tháng ba 2005.
 
Nhiều thử nghiệm lâm sàng dùng glucosamine và condroitin để điều trị viêm khớp kết luận rằng những chất này có một số lợi ích.
• Glucosamine được dùng bằng cách uống hoặc tiêm vào khớp hay bắp thịt. Hình thức hay được sử dụng nhất là dạng glucosamine sulfate, nó có tính năng:
• Giảm đau hiệu quả hơn giả dược hay NSAIDs (đặc biệt là ibuprofen)
• Thời gian bắt đầu tác dụng chậm hơn ibuprofen nhưng tác dụng giảm đau kéo dài lâu hơn.
• Có ít tác dụng ngược hơn là ibuprofen
• Làm giảm đau hiệu quả hơn cải thiện tầm cử động tốt hơn giả dược và NSAID piroxicam
• Cải thiện triệu chứng lâu dài hơn so với piroxicam
 
Mặc dù những cuộc nghiên cứu này có kết quả tích cực, nhưng chưa nghiên cứu về tính an toàn lâu dài và hiệu quả của thuốc bổ sung. Một cuộc nghiên cứu 212 bệnh nhân bị viêm khớp dùng glucosamine và giả dược trong 3 năm, những người trong nhóm dùng glucosamine giảm được 25% triệu chứng, cải thiện khoảng cách khớp nói rằng thuốc bổ sung còn làm chậm tiến trình của bệnh. Nhóm dùng glucosamine cũng không bị tác dụng ngược như trong nhóm dùng giả dược.
 
Một vài chuyên gia cho rằng một dạng khác của glucosamine là glucosamine hydrochloride còn có thể được cơ thể hấp thu nhanh hơn glucosamine sulfate. Hầu hết các cuộc nghiên cứu tới nay chỉ tiến hành đối với glucasamine sulfate nên dạng thuốc trên đang được đề nghị sử dụng cho bệnh nhân viêm khớp.
 
Chondroitin cũng được sử dùng bằng cách uống hay chích vào chỗ viêm hoặc bắp thịt. Người ta thấy nó có các kết quả sau trong thử nghiệm lâm sàng:
• Giảm được nhu cầu dùng NSAIDS và những loại thuốc giảm đau khác
• Giảm đau (đôi khi hiệu quả hơn thuốc y khoa kinh điển (conventional); tác dụng kéo dài tới 3 tháng sau khi đã không còn sử dụng chondroitin.
• Tăng khả năng cử động
• Giảm viêm
• Giảm chất dịch trong khớp
• Tăng tốc độ bước
• Làm giảm tiến trình bệnh

 Mặc dù glucosamine và chondroitin được nghiên cứu riêng rẽ, bằng chứng cho thấy sử dụng đồng thời hai chất này có thể là cách trị liệu an toàn và hiệu quả đối với bệnh viêm khớp. Như đã đề cập ở trên, một cuộc nghiên cứu do NIH tài trợ so sánh glucosamine, chondroitin và tổng hợp hai chất trên đối với giả dược cũng được nghiên cứu và chấm dứt vào tháng ba 2005.
 
Các chuyên gia y tế cũng lưu ý rằng những chất bổ sung bán ở quầy thuốc ở Mỹ không bị chi phối bởi luật lệ của cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm FDA Mỹ có nghĩa là những thành phần ghi ở nhãn không có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và chất lượng.
S-adenosylmethionine (SAMe)
 
Các cuộc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm và trên súc vật thấy rằng SAMe giảm đau và kháng viêm nhưng các nhà nghiên cứu chưa biết rõ cơ chế hoạt động của nó như thế nào. Các cuộc nghiên cứu lâm sàng trên người (thời gian ngắn và qui mô nhỏ) cũng cho thấy kết quả tích cực khi dùng SAMe để làm giảm các triệu chứng viêm khớp.
 
Những cuộc nghiên cứu ngắn ngày (từ 4 tới 12 tuần) cũng cho thấy bổ sung SAMe (1200 mg/ngày) ở người lớn bị viêm khớp đầu gối, hông hay cột sống có kết quả thuận lợi hơn so với dùng NSAIDs về các phương diện:
• Giảm cứng khớp vào buổi sáng
• Giảm đau
• Giảm sưng
• Cải thiện tầm cử động
• Tăng tốc độ đi bộ
 Trong những cuộc nghiên cứu rộng rãi hơn với SAMe (mẫu nghiên cứu có hơn 20,000 người đại diện), bao gồm những cuộc thử nghiệm dài (2 năm), thuốc bổ sung mang lại những lợi ích sau đây:
• Những triệu chứng đau được cải thiện
• Ít hiệu ứng phụ
• Sự sản sinh sụn Không bị tác dụng tiêu cực (khác với NSAIDs)
• Giảm nguy cơ tái phát

Vitamin D rất quan trọng đối với xương và sụn. Các cuộc nghiên cứu đánh giá vitamin D đối với bệnh viêm khớp như sau:
• Vitamin D phòng ngừa thoái hóa sụn
• Thiếu hấp thu vitamin có thể dẫn tới nguy cơ viêm khớp hông ở phụ nữ có tuổi và các biến đổi khớp (có thể thấyđược trên hình chụp x-quang) ở đàn ông và phụ nữ
Chất chống oxy hóa
 
Chất chống oxy hóa giảm được sự oxy hóa và viêm gây ra bởi gốc tự do và vì thế làm chậm quá trình viêm khớp. Gốc tự do có thể sinh ra trong khớp và gây ra thoái hóa trong cơ thể người lớn tuổi, bao gồm sự hủy hoại sụn và các tế bào liên quan. Chất chống oxy hóa bù lại thiệt hại gây ra bởi gốc tự do. Mặc dù cần phải có thêm bằng chứng củng cố quan điểm này, một số nghiên cứu trên người cho thấy những chất chống oxy hóa sau có thể làm giảm triệu chứng viêm khớp:
• Vitamin A và beta-crotene
• Vitamin C
• Vitamin E
 
Ngoài ra, những cuộc nghiên cứu về vitamin E cho thấy người mắc viêm khớp thấy giảm đau rõ rệt sau khi uống 600 mg vitamin E mỗi ngày so với người chỉ nhận giả dược. Những người uống 600 mg vitamin E ba lần mỗi ngày thấy giảm đau nhiều hơn người uống NSAID diclofenac.
Niacinamide
 
Trong một cuộc nghiên cứu sơ bộ, 72 bệnh nhân viêm khớp được chọn một cách ngẫu nhiên uống niacinamide, một dạng vitamin B3, và giả dược. Nhóm uống niacinamide thấy giảm được 30%triệu chứng trong khi nhóm dùng giả dược còn cảm thấy 10% tệ hơn. Những người dùng niacinamide cho biết:
• Khả năng cử động khớp cải thiện
• Giảm được nhu cầu dùng thuốc kháng viêm
 
Tác giả các cuộc nghiên cứu suy luận rằng niciamide có thể giúp tái tạo sụn và cho rằng có thể dùng NSAIDs một cách an toàn để giảm viêm. Cần phải nghiên cứu thêm nữa để có thể hiểu được niacinamide tác dụng có lợi như thế nào đối với người bị viêm khớp và có thể sử dụng cho mọi người bị tình trạng này hay không. Một điều cần lưu ý là niacinamide phải được sử dụng 3 tuần mới thấy được kết quả như trên. Các chuyên gia cho rằng dùng dài hạn (từ 1 tới 3 năm) có thể làm chậm tiến trình của bệnh.

Các loại axít béo Omega-3 tìm thấy ở các loại cá nước lạnh như cá hồi, cá trích và cá thu và ở hạt lanh, hạt rapeseed (canola), hạt cây óc chó. Nghiên cứu về việc sử dụng axít béo omega-3 bổ sung đối với tình trạng viêm khớp thường tập trung vào viêm xương thấp. Dựa vào các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu cho rằng chế độ ăn giàu axít omega-3 ( và ít axít béo omega-6) có thể có lợi cho người bị rối loạn viêm như trong trường hợp viêm xương. Thực vậy, nhiều cuộc nghiên cứu phòng thí nghiệm về tế bào sụn thấy rằng axít béo omega-3 giảm viêm và giảm đươc hoạt tính của các enzyme phân hủy tế bào sụn.
 
Một nguồn axít béo tiềm năng khác là loài trai môi xanh (Perna canaliculus), loài này được người dân Maori sử dụng như một thực phẩm bổ dưỡng. Một cuộc thử nghiệm 38 người bị viêm khớp sử dụng nước trích loài trai Perna canalicus gần 40% thấy được kết quả sau:
• Giảm cứng và đau khớp
• Tăng trương lực nắm
• Tăng được tốc độ đi đứng
 
Một điều quan trọng cần lưu ý là độ 10% người tham dự thí nghiệm cảm thấy tệ hơn khi lần đầu tiên sử dụng chất bổ sung này. Ngoài ra, tốt hơn nên dùng trích ly mỡ P. canaliculus hơn là dùng chất bột vì có ít nguy cơ bị dị ứng. Những người bị dị ứng đồ biển nên tránh dùng P.canalicus.
Mangan
 
Mangan là một trong những chất cơ thể dùng để tạo thành sụn. Trong một cuộc thử nghiệm lâm sàng nghiên cứu glucosamine, choindroitin, và mangan, 72 người bị viêm khớp gối từ nhẹ tới trung bình đã có sự cải thiện rõ rệt sau khi dùng chất bổ sung tổng hợp nói trên so với những người dung giả dược. Không có hiệu ứng phụ nào. Những người bị nặng hơn không có kết quả khi dùng tổng hợp chất trên. Mặc dù cuộc nghiên cứu trên nói rằng mức mangan thấp có thể tạo ra tình trạng thoái hóa khớp và mất xương nhưng người ta không rõ vai trò của mangan như thế nào đối với kết quả nói trên. Một điều thú vị là chừng 37 % người Mỹ có chế độ ăn uống ít mangan.

Những chất bổ sung khác
 
Theo giai thoại và những cuộc nghiên cứu sơ bộ, những chất bổ sung khác có tiềm năng giảm nhẹ viêm khớp là:
• Dứa Bromelain (Ananas comosus) – tốt hơn NSAID về phương diện giảm đau
• Nguyên tố Bo – những cuộc nghiên cứu sơ bộ trên người và súc vật cho rằng chất này có thể giảm làm giảm sự xuất hiện các triệu chứng viêm khớp
• Sản phẩm thủy phân da – có thể kích thích tế bào tạo ra collagen, tuy nhiên lý thuyết trên còn đang đươc thử nghiệm.

Những bài thuốc dùng cây cỏ: Dược liệu cây cỏ là những bài thuốc người viêm khớp thích sử dụng. Có bằng chứng khoa học cho thấy những chất sau rất có công hiệu chữa trị viêm khớp:
• Cây móng quỉ (Harpagophytum procumbens)
• Vỏ cây liễu (Salix spp.)
• Cây tầm ma (Urtica dioica)
• Tổng hợp các loại: câydương lá rung (Populus tremula), cây tần bì (Fraxinus excelsior) và goldenrod (Solidabo viraurea)
• Tổng hợp các loại cây họ đỗ quyên (Ayurvedic) chứa trích ly ashwagandha (Withania somnifera), boswellia (Boswellia serrata) và nghệ (Curcuma longa)
• Tổng hợp vỏ cây dương liễu (Salixspp.), black cohosh (Cimicifuga racemosa), thổ phục linh (Smilax spp.), nhựa gaiad (Guaiacum officinale), và vỏ cây dương (Populus tremuloides)

Một số cây hứa hẹn công dụng chữa trị viêm khớp còn có:

Ớt Capsaicin (Capsicum frutescens):Capsaicin là chất chủ yếu chứa trong ớt (ớt cayenne). Người ta tin rằng đắp lên da sẽ làm tan chất gây sưng và đau ở người bị viêm khớp. Một số nghiên cứu thấy rằng kem capsaicin làm giảm đau tốt hơn giả dược nhưng không có kết quả đối với sưng khớp, hoặc tăng cường trương lực hay cải thiện chức năng cho người viêm khớp. Đau sẽ giảm sau từ 3 tới 7 ngày đắp kem capsaicin lên da.

Trích ly trái bơ và đậu nành: Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thấy rằng trích ly trái bơ hay đậu nành có thể kích thích sinh trưởng collagen (protein chủ yếu ở da, gân, sụn và xương) ở tế bào sụn. Trong một cuộc nghiên cứu, 164 người bị viêm đầu gối, hông được cho uống trích ly trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng. Những bệnh nhân này cảm thấy thuyên giảm và không bị hoặc bị ít hiệu ứng phụ:
 
• Giảm đau
• Tăng tính cơ động
• Giảm nhu cầu dùng NSAIDs

Cây móng mèo (Uncaria tomentosa): Nghiên cứu thấy 45 người bị viêm khớp đầu gối sử dụng cây móng mèo giảm đau đầu gối so với người dùng giả dược.

Gừng (Zingiber officinale): Trích ly gừng từ lâu đã được sử dụng trong các bài thuốc truyền thống để làm giảm sưng. Tuy nhiên có rất ít báo cáo về lợi ích của gừng trong y văn về chữa trị viêm khớp, một cuộc nghiên cứu mới đây thấy rằng loại cây này cũng không có hiệu quả hơn gì ibuprofen hay giả dược khi chữa trị viêm khớp.

Tiêu (Piper methysticum): Tiêu từ lâu đã được dùng như một loại giảm đau nhưng có rất ít nghiên cứu đánh giá tác dụng này của tiêu. Nghiên cứu trên súc vật cho thấy tiêu có tác dụng giảm đau. Đối với người có thể có tác dụng.

Châm cứu: Nhiều cuộc thử nghiệm cho thấy châm cứu có tác dụng trị liệu tốt đối với cơn đau do viêm khớp, kể cả cải thiện chức năng khớp, khả năng đi lại. Một số nghiên cứu thấy châm cứu giảm đau và cải thiện chức năng người bị viêm khớp tốt hơn là dùng NSAID (các loại giảm đau và kháng viêm). Đan cử một trường hợp một nhóm 29 người đang chờ phẫu thuật do viêm khớp gối được châm cứu đã cải thiện rõ rệt khả năng lên cầu thang và tốc độ đi bộ so với người không được châm cứu.